Giới Thiệu Trà Kiệu Lịch Sử Trà Kiệu

Thành Cổ Chămpa Trà Kiệu: Một Nghiên Cứu Lịch Sử và Khảo Cổ Học

LTT: Đây là phần trích riêng về Thành cổ Chămpa Trà Kiệu, trong bài: Thành Cổ Chămpa: Một Nghiên Cứu Lịch Sử và Khảo Cổ Học, được dịch từ nguyên bản tiếng Anh. Chúng tôi có để link bài đẩy đủ cả tiếng Anh và Việt ở cuối bài.

Đỗ Trường Giang National University of Singapore, Singapore and Institute of Imperial Citadel Studies (IICS) giangiseas@gmail.com

Suzuki Tomomi Archaeological Institute of Kashihara, Nara, Japan grow_b_t@hotmail.com

Nguyễn Văn Quảng Hue University of Sciences, Vietnam quangkch@gmail.com

Yamagata Mariko Okayama University of Science, Japan yamariko@mgt.ous.ac.jp

Việt ngữ: Teresa Võ và Văn Thơm (dịch từ Anh ngữ)

Toát Lược

Từ năm 2009 đến 2012, một nhóm nghiên cứu bao gồm các nhà khảo cổ học người Việt Nam và người Nhật Bản dẫn đầu là cố Giáo sư Nishimura Masanari đã tiến hành khảo sát và khai quật tại 5 điểm xung quanh Thành Hoá Châu, tỉnh Thừa Thiên Huế, được xây dựng bởi người Chămpa vào thế kỷ thứ 9 và được sử dụng bởi người Việt cho đến thế kỷ thứ 15. Nghiên cứu này còn giới thiệu các phát hiện từ những cuộc khai quật khảo cổ gần đây tại 03 thành Chămpa: Thành Hoá Châu, Thành Trà Kiệu ở tỉnh Quảng Nam, và Thành Chà Bàn ở tỉnh Bình Định. Cùng với những tư liệu lịch sử và các cuộc khảo sát tại hiện trường, nghiên cứu mô tả phạm vị và cấu trúc của các thành cổ Chămpa, nó cũng còn khám phá vị trí, vai trò, và chức năng của các thành này trong bối cảnh nagaras (vương quốc nhỏ) của chính họ và tổng thể mandala Chămpa. Từ phân tích so sánh, nghiên cứu cố gắng xác định các đặc điểm riêng của các thành cổ Chămpa trên bình diện tổng quát.

Từ chính: Chà Bàn – Chămpa – thành – Hoá Châu – Thành Cha – Thành Hồ – Thành Lồi – Trà Kiệu

Thành Trà Kiệu tại Quảng Nam

Trong số các thành cổ Chămpa tại miền trung Việt Nam, Trà Kiệu ở Quảng Nam nhìn chung đã được xác định là thủ đô sớm, và vì thế đã thu hút được sự quan tâm từ nhiều học giả. Trà Kiệu cách thành phố Đà Nẵng khoảng 28 km, và khoảng 18 km trong khu vực nội địa tính từ cửa Sông Thu Bồn theo đường chim bay. Nó toạ lạc giữa 2 Di Sản UNESCO: Phố Cổ Hội An, khoảng 13 km về hướng đông bắc của Trà Kiệu, và Linh Địa Mỹ Sơn, khoảng 14 km về hướng tây nam. Nằm dọc thung lũng Sông Thu Bồn, thế kiềng 3 chân tạo thành trục chính trị khu vục có tên Amaravati, trong đó Hội An đóng vai trò là một cảng, Trà Kiệu là một trung tâm chính trị và Mỹ Sơn là trung tâm tôn giáo[1]. Khu vực Trà Kiệu trải dài theo bờ phía nam của một nhánh sông nhỏ của Sông Thu Bồn, thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam (Fig. 1). Nó được bao bọc bởi các thành luỹ rất vuông vức. Dãy thành phía nam trải dài liên tục khoảng 1.500 m từ tây sang đông; chiều rộng của thành khoảng chừng 550m từ nam ra bắc[2]. Thành luỹ phía đông và phía bắc còn lại khá rõ, khoảng 2-3 m cao hơn cánh đồng lúa hiện nay, với chiều rộng ở chân thành khoảng 33 m. Các dãy thành phía tây và phía bắc được vẽ lại trên bản đồ Trà Kiệu bởi nhà khảo cổ học người Pháp Claeys vào thập niên 1920, nhưng các thành luỹ này có mà có thể nhận ra trên mặt đất ngày nay[3].

Figure 1 Sơ đồ các điểm khai quật sau 1990 tại Trà Kiệu: (1) Đông bắc Bửu Châu (1990, 1993); (2) Đông Bửu Châu (1996); (3) Hoàn Châu (1997–2000); (4) Gò Dủ Dẻ (1996); (5) Thành Nam (1990, 2003); (6) Thành Đông.
Nguồn: Claeys, “Fouilles de Tra-Kieu,” fig. 3, được bổ sung bởi Yamagata Mariko.

Claeys đã cho khai quật mở rộng tại Trà Kiệu vào những năm 1927-28[4]. Ông đã khám phá ra các nền móng cấu trúc tỉ lệ lớn, các đế thờ, đá lingam và yoni, số lượng lợn các điêu khắc bằng đá và các hiện vật khác. Ông dường như bị thuyết phục rằng Trà Kiệu chính là thủ đô của Lâm ấp (Linyi, một cách chung chung được xác định là Chămpa). Tuy nhiên, hiện nay người ta cho rằng hầu hết các tượng và công trình xây dựng còn lại mà ông đã khai quật có thể được xác định niên đại từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ 11 mà thôi[5].

Sau một thời gian dài chiến tranh, các nhà khảo cổ học Việt Nam tại Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã tiến hành khai quật mới lại Trà Kiệu vào năm 1990. Họ tiến hành khai quật sườn dốc phía đông bắc Đồi Bửu Châu, toạ lạc ở giữa làng và kéo dài cho đến nửa phía bắc của thành[6]. Vào năm 1990 và 2003, học đã tiến hành khai quật dãy thành phía nam của Trà Kiệu.

Năm 1993, một nhóm các nhà khảo cổ Việt Nam, Nhật Bản và Anh đã bắt đầu làm việc tại Trà Kiệu. Nhóm (bao gồm 1 trong những tác giả, Yamagata) đã khai quật 03 vị trí: sườn dốc phía đông bắc Đồi Bửu Châu vào năm 1993, một địa điểm có tên Gò Dủ Dẻ nằm ở giữa cánh đồng lúa vào năm 1996, và một địa điểm có tên gọi là Hoàn Châu, nằm trong 1 ngôn làng, từ 1997 đến 2000[7]. Các kết quả của những đợt khai quật này bên trong thành đã cho phép chúng tôi nhận ra một sự chuyển tiếp rõ ràng nơi nhóm ráp ghép đồ tạo tác dưới lòng đất từ các lớp thấp nhất cho đến lớp cao hơn, có niên đại khoảng từ thế kỷ thứ 2 cho đến thế kỷ thứ 3 sau Công Nguyên[8].

Năm 2013, Yamagata và Viện Khoa Học Xã Hội Miền Nam ở Thành phố Hồ Chính Minh đã triển khai một dự án khảo cổ nhằm nghiên cứu dãy thành luỹ phía đông của Trà Kiệu. Nhó đã tiến hành 02 mùa khai quật trên dãy thành đó, nhằm để xác minh niên đại và cấu trúc của nó. Một trong những mục đích tối hậu là xác định các đặc tính và các vật tạo tác mang tính khảo cổ học từ thế kỷ thứ 4 và trước đó mà chưa được khám phá trong các đợt khai quật từ năm 1990 bên trong thành. Trong báo cáo sơ bộ cuộc khai quật thành phía năm của Đại Học Hà Nội, cho rằng công trình xây dựng thành luỹ đó hầu chắc được bắt đầu vào thế kỷ thứ 4.

Công trình xây dựng các thành luỹ của thủ đô Lâm ấp (Linyi) có thể được đề cập đến trong quyển 97 sách Tấn thư và quyển 36 sách Thuỷ kinh chú. Vua của nước Lâm ấp, Phạm Dật mất năm 336 sau Công Nguyên và ngai vàng của ông bị cướp đoạt bởi 1 gia nô cũ gốc Trung Quốc có tên Phạm Văn (trị vì 336-349). Ông này được cho là sinh ra ở hạ lưu Sông Dương Tử và cuối cùng tham gia phục vụ cho vua Lâm ấp. Phạm Văn đã xây dựng một cung điện cho Phạm Dật, và có mưu đồ cũng còn xây dựng cả chengyi (城邑 = thành ấp), điều đó có thể là những chiến luỹ[9]. Nếu Phạm Văn đã xây dựng các thành luỹ của kinh đô, công trình đó ắt phải có niên đại vào thế kỷ thứ 4 sau Công Nguyên. Quyển 36 của sách Thuỷ kinh chú cũng còn thuật lại rằng “tường thành của Lâm ấp có 4 cửa. Cửa chính hướng ở phía đông, ở chỗ đường quanh có tấm bia cổ tán tụng đức của đức vua Phạm Hồ Đạt”[10]. Phạm Hồ Đạt trị vì từ năm 380 đến năm 413 sau Công Nguyên.

Xét về biên niên xử của Trà Kiểu thuở ban đầu, Yamagata, một người trong nhóm tác giả, trước đây đã xác định ba giai đoạn tại Hoàn Châu, một vị trí trong nội vi thành Trà Kiệu, các gia đoạn Hoàn Châu có tên như sau: Lớp dưới cùng, Lớp dưới và Lớp trên[11]. Sau đó giai đoạn Lớp dưới cùng và Lớp dưới được gọp chung lại, khi chúng biểu thị một tương phản mạnh với giai đoạn Lớp trên về phương diện ngói mái[12]. Như thế, các giai đoaọn này đã được đổi tên lại thành Giai đoạn Trà Kiệu I (được chia nhỏ thành Ia và Ib) và Gia đoạn Trà Kiệu II.

Xét về đặc tính của các giai đoạn này, Giai đoạn Trà Kiệu I có một loại gốm xứ có thớ thô, bao gồm hủ hình trứng, hủ có khắc hình dây thừng, nắp, đĩa, bát, chén và lò gốm có đến, và ngói mái có dấu vải trên bề mặt lõm. Đặt biệt trong Giai đoạn Ia sớm nhất, các hủ hình trứng và ngoái mái có dấu vải chiếm ưu thế, hầu hết có liên hệ với những người dân cự ngụ ngay từ đầu tại Trà Kiệu. Các tác giả đã không tìm thấy bất kỳ lớp văn hoá nào đi trước giai đoạn này trong nội vi thành.

Giai đoạn Trà Kiệu II thì khác biệt với Giai đoạn Trà Kiệu I, nhất là ngói mái. Ngói mái của Giai đoạn II không bao giờ có dấu vải trên bề mặt lõm, điều này cho thấy đã có một phương pháp sản xuất khác được các thợ thủ công áp dụng trong giai đoạn này. Các ngói mái hấp dẫn (đầu ngói) có trang trí mặt người ở Trà Kiệu thuộc vào Giai đoạn Trà Kiệu II này (Fig. 2) và có liên hệ với ngói không có dấu vải[13]. Đi sâu vào sự giống nhau giữa ngói có trang trí mặt người tại Trà Kiệu với ngói được phát hiện ở Nam Kinh, kinh đô của sáu Triều đại Trung Hoa[14], ngói tìm thấy ở Trà Kiệu có thể có niên đại từ thế kỷ thứ 3 sau Công Nguyên, có lẽ từ hai phần tư thế kỷ về sau.

Figure 2 Đầu ngói có trang trí mặt người, được khai quật tại Hoàn Châu, Trà Kiệu.
Hình: Yamagata Mariko.

Các loại ngói, bao gồm các ngói mái có hình mặt người, cũng đã được phát hiện trong các hố khai quật trên các bờ thành phía đông của Trà Kiệu. Các quan sát ban đầu đã hướng chúng tôi đến việc nghĩ rằng các loại ngói này đã xuất hiện sau so với các loại được khai quật trước đó tại vài nơi trong nội thành, như Hoàn Châu và khu vực Đông bắc Bửu Châu. Sáu cuộc xác định niên đại bằng phương pháp quang phổ gia tốc tập trung (AMS= Accelerator Mass Spectrometry) đã mang lại kết quả như vậy, đối với các dãy thành ở phía đông thì có niên đại từ nửa sau thế kỷ thứ 3 cho đến nửa đầu thế kỷ thứ 5[15]. Hợp đề sơ bộ của nhóm khai quật cho rằng con trình đầu tiên của dãy thành đó hầu như được xây dựng vào nửa đầu thế kỷ thứ 4.

Bên cạnh Trà Kiệu, các loại ngói mái có trang trí mặt người đã được tìm thấy tại một vài nơi khác, như Lũng Khê (Luy Lâu) ở Bắc Ninh, Tam Thọ ở Thanh Hoá, Mỹ Sơn ở Quảng Nam, Cổ Luỹ ở Quảng Ngãi, Thành Cha và Bình Lâm ở Bình Định, Thành Hồ ở Phú Yên và Bang Kheng ở Gia Lai. Cũng vậy, một mảnh của loại ngói như thế cũng đã xuất hiện trong một bức tranh tạo tác được tìm thấy ở Po Nagar, Nha Trang[16]. Sự hiện diện của các loại ngoái lợp thì là quan trọng vì chúng cho thấy sự tồn tại những rui mè bằng gỗ nâng các ngói lợp khá nặng đó, chúng thông thường được sự dụng với những trung tâm hành chính, các cung điện hoàng gia, các đền đài tôn giáo và vâng vâng. Trong trường hợp của miền trung Việt Nam, các loại ngói lợp sớm nhất xuất hiện tại Trà Kiệu và Gò Cấm[17], cả hai đều toạ lạc trên một nhánh sông của dòng Sông Thu Bồn, vào nửa đầu thế kỷ thứ 2 sau CN[18]. Quan trọng hơn vẻ bên ngoài của ngói, thì các khu vực khảo cổ Thời Kỳ Đồ Sắt của Văn Hoá Sa Huỳnh trải dài miền trung Việt Nam, không có khu vực nào xây dựng với mái lợp ngói. Văn Hoá Sa Huỳnh đã suy tàn vào cuối thế kỷ thứ 1 sau CN, vì thế sự suy tàn của nó và sự xuất hiện những khu dân cư sớm nhất tại Trà Kiệu và Gò Cấm là khá gần nhau về mặt thời gian[19].

Những gì cần phải được nhấn mạnh ở đây là các loại ngói đầu tiên tại miền trung Việt Nam rõ ràng là thuộc phong cách Á Đông có nguồn gốc từ Trung Quốc. Việc phân tích kết cấu và kỹ thuật sản xuất các loại ngói trên đã gợi lên rằng chúng được sản xuất tại địa phương. Trong khi các loại ngói lợp theo phong cách Á Đông được tìm thấy tại miền trung Việt Nam, thì các loại ngói lợp theo phong cách Ấn Độ dường như xuất hiện đầu tiên tại Văn Hoá Óc Eo, một nền văn hoá khảo cổ học một cách chung chung được cho là thuộc về vương quốc Phù Nam đầu tiên[20]. Ngói lợp được khai quật ở Cát Tiên, một khu phức hợp tôn giáo cổ toạ lạc giữa miền trung và miền nam Việt Nam, là rất duy nhất[21]. Chúng thuộc không thuộc về phong cách Á Đông và cũng không thuộc phong cách Ấn Độ.

Ở miền trung Việt Nam, các loại ngói phong cách Á Đông xuất hiện sớm hơn tại Cổ Loa, một thành cổ có quy mô rộng lớn toạ lạc phía bắc cách Hà Nội khoảng 14 km. Các loại ngói mái ở Cổ Loa có một khuôn mẫu may cuộn thịnh hành trong các Triều đại Tần và Hán ở Trung Quốc. Các loại ngói ở Cổ Loa được tìm thấy trong các lớp đất cọc trụ của các dãy luỹ giữa[22], và cũng còn được tìm thấy trong lòng dãy luỹ nội thành gọi là Đền Thượng (Upper Temple), tại đây một lò luyện đồng cũng đã được phát hiện[23], như thế chúng ắt phải có liên hệ chặt chẽ với công trình Cổ Loa ban đầu. Nishimura chia sẻ gợi ý của ông về niên đại của Cổ Loa với các đồng nghiệp Việt Nam rằng công trình và tập quán của thành có thể có niên đại từ cuối thế kỷ thứ 3 Trước CN cho đến nửa đầu thế kỷ thứ 2 Trước CN. Nishimura cũng còn cho rằng kỹ thuật sản xuất các loại ngói được tìm thấy ở một nơi được gọi là Bãi Mèn, chỉ bên ngoài của luỹ ngoài[24]. So sánh giữa ngói Cổ Loa với ngói Nam Việt, ông kết luận rằng ngói Cổ Loa có thể có niên đại sớm hơn ngói được tìm thấy ở khu vực Cung điện Vương quốc Nam Việt ở Quảng Châu.

Bận tâm về các loại ngói mái có trang trí hình mặt người, các nhà khảo cổ Trung Quốc tại Nam Kinh đã xếp các loại ngói này thuộc vào thời Tam Quốc (222-280 Sau CN). Dựa trên cơ sở so sánh giữa Trà Kiệu và Nam Kinh, kết luận của Yamagata cho rằng cư dân xưa của Trà Kiệu đã thừa kế mô típ (motiff) hình mặt người để trang trí cho các mái nhà của riêng họ, và rằng cũng cùng mô típ đó dần dần được đưa vào các thành khác của Lâm Ấp, bao gồm Cổ Luỹ và Thành Hồ. Việc sử dụng một mô típ đơn lẻ trên các loại ngói mái có trang trí được sản xuất dành cho cung điện, đền đài và các toà nhà quan trọng khác trong thành có thể phản ánh một kiểu liên minh giữa các trung tâm theo khu vực của Lâm Ấp, điều đó có thể được so sánh với tổ chức chính trị của các mandala[25].

Các nhà khảo cổ đào xới tại Nam Kinh đã gợi ý rằng mô típ hình mặt người có thể có liên hệ đến niềm tin dân gian của người Trung Quốc về trừ lửa[26]. Nishimura thì bị thuyết phục nghiêng về ý kiến của các nhà khảo cổ Việt Nam cho rằng các mặt người trên các loại ngói mái ở Trà Kiệu thể hiện Makala/Kala, một sinh vật tưởng tượng trong thần thoại Hindu[27]. Nếu như giả thuyết rằng mô típ mặt người thời Ngô được áp dụng cho các loại ngói mái ở Trà Kiệu là đúng, thì sự giải thích của người Trung Quốc có vẻ hợp lý. Trong số rất nhiều mặt người khác nhau tại Trà Kiệu, tuy nhiên, một số có khuôn mặt biểu trưng cho người đến từ phía tây. Sự khác nhau về độ rộng của mặt người trên các loại ngói mái được tìm thấy ở miền trung Việt Nam hàm ý rằng chúng có thể tiếp tục được sản xuất sau khi chúng không còn được sản xuất tại Nam Kinh, và vì thế ý nghĩa các khuôn mặt cũng có thể đã được thay thế. Theo các nhà khảo cổ Nam Kinh, các loại ngói mái trang trí mặt người được thay thế bởi các loại ngói có mặt động vật vào đầu thế kỷ 4.

Nishimura đưa ra ý kiến khác về sự phát triển của các loại ngói mái có trang trí theo mô típ hình mặt người. Ông đã quan sát thấy rằng các loại ngói này có trong các lớp đáy ở Lũng Khê, được cho rằng có niên đại vào ¼ thế kỷ thứ 2 Sau CN[28]. Như thế Lũng Khê là nơi mà các loại ngói có trang trí hình mặt người cổ nhất đã được tạo nên, và sự phát tán các loại ngói này có thể diễn ra từ Lũng Khê đến Nam Kinh, cũng như từ Lũng Khê đến Trà Kiệu. Cũng vậy, các loại ngói có hình hoa văn hoa sen cũng có thể xuất hiện tại Lũng Khê trước rồi đến các nơi khác tại Việt Nam và khu vực nam Trung Hoa. Nishimura đã gán sự sáng tạo này cho việc truyền bá Đạo Phật vào Quận Giao Chỉ của Đông Hán dưới thời trị vì của Sĩ Nhiếp, quận công có quyền lực của Giao Chỉ được cho là đã có ở tại Lũng Khê. Đạo Phật rồi được giới thiệu từ Giao Chỉ đến nhà Ngô, theo đó các loại ngói mái có hình mặt người và có hình hoa sen cũng được giới thiệu đến. Tuy nhiên, cũng khó để mà thông qua luận đề lớn này bởi vì các thông tin chi tiết địa tầng học của các kênh đào khai quật tại Lũng Khê đã chưa cho thấy điều đó, và vì thế bối cảnh khảo cổ học về các loại ngói đã được phát hiện vẫn chưa giải mã được. Việc nghiên cứu thêm về các loại ngói lợp của Lũng Khê là rất cần thiết để làm rõ ý nghĩa lịch sử của thành này.

Nishimura cũng còn thảo luận thêm về tôn giáo được thực hành tại Trà Kiệu.Cứ cho rằng mô típ hình mặt có thể là đại diện cho Makala/Kala, và khi so sánh các bình có vòi được gọi là kendis, được cho là có nguồn gốc từ Ấn Độ, đã được khai quật tại Trà Kiệu với những các bình như thế tại Óc Eo ở phí nam Việt Nam, thì ông phỏng đoán rằng tôn giáo Ấn Độ đã được thực hành tại Trà Kiệu. Liên quan đến vấn đề được gọi là Ấn Độ hoá, thì các tư liệu khảo cổ thuộc giai đoạn Trà Kiệu I và II của thế kỷ thứ 2 và 3 Sau CN cho thấy sự ảnh hưởng của Ấn Độ ít có bằng chứng hơn Trung Quốc. Quá trình Ấn Độ hoá tại thủ đô của Lâm Ấp cần phải được nghiên cứu và tranh luận một cách có hệ thống, dựa trên một khung biên niên kỷ chắc chắn. Đây là một trong những lý do mà Yamagata và các cộng sự của bà đã quyết định tiến hành các cuộc khai quật tại thành phía đông của Trà Kiệu. Như đã có đề cập ở trên, công trình các thành luỹ này có thể có niên đại từ thế kỷ thứ 4 Sau CN, được xem một cách chung chung về thời kỳ đầu của quá trình Ấn Độ hoá.

Tại Việt Nam, các thành luỹ bao bọc các thành cổ đã được khai quật ở vài nơi, bao gồm Cổ Loa, Lũng Khê, Trà Kiệu và Thành Hồ. Các quan sát từng phần, các niên đại AMS cùng với địa tầng học, đã loé lên ánh sáng về kết cấu và niên đại công trình của chúng, cho dù các thông tin được xuất bản hiện có còn khan hiếm.

So sánh các thành luỹ của Trà Kiệu với thành luỹ phía bắc của Lũng Khê, thì địa tầng học của chúng được quan sát và mô tả gần với Nishimura[29], có vài sự tương đồng về kết cấu có thể được chỉ ra. Khai quật thành nam và thành đông tại Trà Kiệu đã phát lộ hai bức tường gạch được đắp xen kẽ bằng những lớp đất sắt có vai trò cấu trúc làm lõi chính của dãy thành (Hình 3). Lõi đó rộng khoảng 3m, được gia cố bởi một cấu trúc bên ngoài có những lớp đất xét một phần bao gồm những mảnh gạch vỡ lớn. Toàn bộ thành rộng khoảng 33m đo tại chân thành.

Nishimura lưu ý rằng có những bức tường gạch, có lẽ đó là một phần của một cấu trúc lõi, được xác định tại Lũng Khê. Các cấu trúc này có thể có đặc tính tương tự như ở Trà Kiệu. Theo Nishimura, công trình thành luỹ ở Lũng Khê có niên đại từ giữa thế kỷ thứ 2 Sau CN. Nếu quả thật như vậy thì các thành luỹ ở Lũng Khê đã được xây dựng sớm hơn hàng trăm năm so với Trà Kiệu. Phương pháp xây dựng thành luỹ ở Trà Kiệu có thể được hình thành bởi ảnh hưởng từ phương bắc.

Figure 3 Khai quật thành đông, Trà Kiệu, góc nhìn từ hướng nam.
Ảnh: Nguyễn Hoàng Bách Linh.

Lưu ý Kết luận

Nishimura đã chỉ ra một số đặc điểm đặc trưng của các thành trì Champa. Ông mô tả vị trí địa lý từng địa điểm của các khu vực thành Champa khi khảo sát từng thành và so sánh nó với các vị trí khác về cấu trúc không gian và cách xây dựng. Dựa vào các nghiên cứu so sánh của mình, Nishimura gợi ý rằng những thành trì này thường nằm gần sông. Trà Kiệu, Thành Lồi, Hoá Châu, Chà Bàn, và Thành Hồ đều có diện tích mở rộng ở các góc hoặc bên ngoài tường thành. Do đó, Nishimura lập luận rằng tất cả họ đều có chức năng phòng thủ. Đặc biệt, thành Chà Bàn có các khu vực mở rộng lớn hơn gần các thành lũy và có thể thiên về bảo vệ hơn các thành trì khác. Về niên đại của các thành lũy Champa, Nishimura giải thích rằng trung tâm chính trị của vùng Quảng Nam – Thu Bồn từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 10 đã được đặt tại Chiêm Sơn, không có bức tường phòng thủ. Thành Trà Kiệu, Hồ, và Cổ Lũy có thể hoạt động như các đồn lũy trong một thời kỳ đầu của lịch sử Champa. Tuy nhiên, từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 8, dường như không có thành trì nào trong lưu vực sông Thu Bồn của tỉnh Quảng Nam, nơi mà các văn bản đã đề cập, là một trong những trung tâm chính trị của đế chế Mandala nằm trong thời kỳ này. Những tiến bộ khảo cổ học gần đây ở khu vực này cho thấy địa điểm Chiêm Sơn ở huyện Duy Xuyên hoạt động như một trung tâm chính trị trong thời kỳ này. Tại đây, một thành trì mà không có đồn lũy phòng thủ đã tồn tại. Đây là một thực tế đáng chú ý để cân nhắc khi suy nghĩ về cơ cấu quyền lực của đế chế Mandala. Từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 15, chỉ có hai thành trì trong toàn Vương quốc Champa: Chà Bàn và An Thành. Tiến sĩ Nishimura lập luận rằng Vương quốc Champa cuối cùng đã trở thành một “xã hội hội nhập” trong giai đoạn này. Điều này có thể được xác nhận theo quy mô của Thành Chà Bàn và sự biến mất của các khu vực mở rộng bên ngoài thành lũy của nó.

Ngoài nghiên cứu thực địa tại Hoá Châu ở Huế, Nishimura đã thực hiện khảo sát tại Thành Lồi ở Huế, Trà Kiệu ở Quảng Nam, Thanh Hồ ở Phú Yên và An Thành (Thành Cha) và Chà Bàn (Thành Hoàng Đế) ở Bình Định[30]. Dường như ông đặc biệt quan tâm đến sơ đồ không gian của những thành trì đó. Các nghiên cứu so sánh và những hiểu biết sâu sắc của ông về các thành trì và pháo đài của miền trung Việt Nam[31] hy vọng sẽ gây hứng khởi cho các nhà khảo cổ đương đại để tiếp tục công trình này.

[1] Trần Quốc Vượng, “Miền Trung Việt Nam và văn hóa Champa” (Central Vietnam and Champa Culture), Nghiên cứu Đông Nam Á (Southeast Asian Studies) 4 (1995): 8–24.

[2] Nishimura reported that the length of the southern rampart measured 1,420 meters and the north-south width of the citadel about 510 meters. Nishimura Masanari, ed., Basic Study on the Citadel and Fort Sites of Dai Viet and Champa: The Second Southeast Asian Archaeology Data Monograph [Japanese] (Yamaguchi: Foundation to Safeguard the Underground Cultural Heritage in Southeast Asia, 2013), 102.

[3] Jean-Yves Claeys, “Fouilles de Tra-Kieu,” Bulletin de l’Ecole française d’Extrême Orient 27 (1928): 468–482.

[4] Ibid.; Jean-Yves Claeys, “Fouilles de Tra-Kieu,” Bulletin de l’Ecole française d’Extrême Orient 29 (1929): 578–596; idem, “Simhapura. La grande capitale chame (site de Tra Kieu, Quang Nam, Annam),” Revue des Arts Asiatiques 7 (1931): 93–104.

[5] Ian C. Glover, “The Excavations of J.-Y. Claeys at Tra Kieu, Central Vietnam, 1927–1928: From the unpublished archives of the EFEO, Paris and records in the possession of the Claeys family,” Journal of the Siam Society 85, parts 1–2 (1997): 177, 183.

[6] Nguyễn Chiề u et al., “Khai quật di chỉ Chăm cổ ở Trà Kiệu (Quảng Nam—Đà Nẵng)” (Excavation of the Ancient Cham Site at Tra Kieu, Quang Nam, Da Nang Province), Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1990 (New Discoveries of Archaeology in 1990) (Hanoi: Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1991), 237–239.

[7] Yamagata Mariko, ed., The Ancient Citadel of Tra Kieu in Central Vietnam: The Site and the Pottery, Kanazawa Cultural Resource Studies 14 (Kanazawa: Center for Cultural Resource Studies, Kanazawa University, 2014)

[8] Yamagata Mariko, “The Early History of Lin-i viewed from Archeology,” Acta Asiatica 92 (2007): 1–30; idem, “Tra Kieu during the Second and Third Centuries CE: The Formation of Linyi from an Archaeological Perspective,” in The Cham of Vietnam: History, Society, and Art, ed. Tran Ky Phuong and Bruce M. Lockhart (Singapore: National University of Singapore Press, 2011), 81–101.

[9] Keith W. Taylor, The Birth of Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1983), 106–107

[10] Fukami Sumio, “ ‘Indianization’ and the Establishment of Monsoon Voyaging in Maritime Southeast Asia: An Examination of Faxian’s Three Homeward Voyages,” Intercultural Studies 49 (2014): 33–34.

[11] Yamagata, “The Early History of Lin-i.”

[12] Yamagata, The Ancient Citadel of Tra Kieu in Central Vietnam, 14

[13] Yamagata Mariko and Nguyen Kim Dung, “Ancient Roof Tiles Found in Central Vietnam,” in 50 Years of Archaeology in Southeast Asia: Essays in Honour of Ian Glover, ed. B. Bellina, E. A. Bacus, T. O. Pryce, and J. W. Christie (Bangkok: River Books, 2010), 194–205.

[14] He Yunao, “Tile Ends with Human and Animal Faces of the Six Dynasties unearthed in Nanjing” [Chinese], Wenwu 2003, no. 7 (2003): 37–44; Eaves Tiles of the Six Dynasties and Capital Cities of the Six Dynasties [Chinese] (Beijing: Cultural Relics Press, 2005); Culture of the Six Dynasties: Archaeology and Discoveries [Chinese] (Beijing: SDX Joint Publishing Company, 2013)

[15] Bui Chi Hoang et al., “Excavation at the Eastern Rampart of Tra Kieu in Central Vietnam: A Preliminary View on Its Structure and Date,” paper presented at the 20th Indo-Pacific Prehistory Association Congress, Siem Reap, Cambodia, January 12–18, 2014.

[16] Henri Parmentier, Inventaire decriptif des monuments cams de l’Annam, vol. 2 (Paris: Ernest Leroux, 1918).

[17] Nguyễn Kim Dung, “Di chỉ Gò Cấm và con đường tiếp biến văn hóa sau Sa Huỳnh khu vực Trà Kiệu” (Go Cam Site and Acculturation after Sa Huynh Culture in the Tra Kieu Region), Khảo cổ học (Archaeology) 2005, no. 6 (2005): 17–50; Nguyen Kim Dung et al., “Excavations at Tra Kieu and Go Cam, Quang Nam Province, Central Viet Nam,” in Uncovering Southeast Asia’s Past, ed. E. Bacus, I. C. Glover, and V. Piggot (Singapore: National University of

Singapore Press, 2006), 216–231.

[18] Yamagata and Nguyen Kim Dung, “Ancient Roof Tiles Found in Central Vietnam”; Yamagata, “The Early History of Lin-i”; Yamagata, “Tra Kieu during the Second and Third Centuries CE.”

[19] Yamagata, “The Early History of Lin-i.”

[20] Hirano Yuko, “Roof Tiles found in the Mekong Delta: With special reference to tiles of the Go Tu Tram site in Oc Eo Site Complex” [Japanese], Research Report of the Japan Society for Southeast Asian Archaeology 6 (2008): 59–66.

[21] Lê Đình Phụng, Di tích Cát Tiên Lâm Đồng – Lịch sử và văn hoá (Hanoi: Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2007); Bùi Chí Hoàng, “Diện Mạo khu di tích Cát Tiên qua tài liệu khảo cổ học” (The Physiognomy of the Complex of Cat Tien Sites through Archaeological Data), Khảo cổ học (Archaeology) 2008, no. 6 (2008): 47–57; Ota Chikako, Bui Chi Hoang and Yamagata Mariko, “Features and Artifacts of the Cat Tien site, Lam Dong province of Southeastern part of Vietnam” [Japanese], Buddhism Art 319 (2011): 85–118.

[22] Nam C. Kim et al., “Co Loa: An Investigation of Vietnam’s Ancient Capital,” Antiquity 84 (2010): 1011–1027.

[23] Lại Văn Tới, “Khảo Cổ Học Cổ Loa vấn đề và thảo luận” (Archaeology of Co Loa: Data and Discussion), Khảo cổ học (Archaeology) 2008, no. 4 (2008): 73–82; Lại Văn Tới et al., “Kết qủa khai quật di tích đúc mũi tên đồng tại Đền Thượng, Cổ Loa (Hà Nội), năm 2007” (Excavation Results from a Bronze Arrow Head Casting Site at Den Thuong in Co Loa, Ha Noi), Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2007 (New Discoveries of Archaeology in 2007) (Hanoi: Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2008), 105–109.

[24] Nishimura Masanari and Trần Thị Kim Quý, “Những mảnh ngói của di chỉ Bãi Mèn (Khai quật 2003): phân loại và kỹ thuật chế tạo” (Roof tiles of the Bai Man Site, excavated in 2003: Classification and Manufacturing Technique), Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2005 (New Discoveries of Archaeology in 2005) (Hanoi: Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2006), 192–193.

[25] Charles Higham, The Archaeology of Mainland Southeast Asia (Cambridge: Cambridge University Press, 1989), 302–304; Yamagata Mariko and Momoki Shiro, “Linyi and Huanwang” [Japanese], in Iwanami Lectures on Southeast Asian History 1: The World of Protohistoric Southeast Asia, ed. Yamamoto Tatsuro (Tokyo: Iwanami Shoten Publishers, 2001), 250–251.

[26] Wang Zhigao and Ma Tao, “Discussion on Eaves Tiles with Clouds and Those with Human Faces unearthed at Nanjing Daxinggong” [Chinese], Wenwu 2007, no. 1 (2007): 92.

[27] Nishimura Masanari, Archaeology and Ancient History of Vietnam (Betonamu no KokoKodaigaku) (Tokyo: Doseisha, 2011), 170.

[28] Ibid., 169.

[29] Ibid., 158–160.

[30] Nishimura, Basic Study on the Citadel and Fort Sites of Dai Viet and Champa.

[31] Ibid., 115–116.

 

Xin mời click vào đây để tải file tiếng Việt.

Xin mời click vào đây để tải file tiếng Anh.

 

Leave a Reply