Đức Mẹ Trà Kiệu 1885

Trà Kiệu 1885 (thơ)


Kết Luận

            Hôm nay viết lại truyện nầy,

Để cho hậu thế mai ngày đừng quên.

            Một khi có Mẹ kề bên,

Hỏi bầy quỷ sứ làm nên trò gì?

            Trà Kiệu gặp lúc khôn nguy,

Tôn Mẹ Nữ Tướng chỉ huy quân nhà.

            Người đầy quyền phép bao la,

Khó khăn lớn nhỏ, Mẹ ra tay liền.

            Giáo dân hốt hoảng ưu phiền,

Tinh thần xuống thấp, Mẹ liền vực lên.

            Những khi sống chết bấp bênh,

Như ngày đại pháo, nhà thờ lâm nguy.

            Mẹ liền hiện đến tức thời,

Giang tay đỡ đạn, mọi nơi an toàn.

            Trận nào yếu thế đa đoan,

Mẹ liền tức tốc gởi sang liền liền

            Đạo binh Thiên quốc linh thiêng,

Từ trời đổ xuống, địch liền tan ngay.

            Trà Kiệu nổi tiếng xưa nay

Gian truân có Mẹ ra tay đỡ đần.

            Hiểm nguy có Mẹ ân cần,

Bảo tồn xứ Đạo, thế trần mấy nơi?

 

 

Viết xong lễ Đức Mẹ Dâng Mình vào Đền Thánh, 21/11/2002

 



[1] Vua Cảnh Thịnh kế vị vua Quang Trung, nhà Tây sơn, đã mật truyền cho các quan, đến tháng 5 năm 1798 phải giết cho sạch người Công giáo, bất chấp lời khuyên can của Triều đình, vì nghi họ theo Nguyễn Ánh, phản bội mình. Tin nầy được tiết lộ ra ngoài, khiến giáo dân Công giáo khiếp sợ, tản mác khắp nơi để lánh nạn. Giáo dân Quảng Trị đã chạy vào rừng La Vang để trốn tránh.

[2] Văn Thân là một tổ chức chính trị do các sĩ phu cầm đầu để chống Pháp và chủ trương tiêu diệt đạo Công giáo, vì cho rằng Công giáo giúp Pháp xâm chiếm Việt Nam.

[3] Nhờ chiếm được tỉnh Quảng Nam, nên Văn Thân đã tận dụng tất cả phương tiện chiến tranh của tỉnh như đại bác, voi trận, v.v… để đánh Trà Kiệu.

[4] Ba tỉnh là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường.

[5] Đặng Mai, Trần Tấn, hai Tú tài quê ở Nghệ An, là những người đề xướng phong trào Văn Thân.

[6] Nhờ Tổng đốc Nghệ An ngấm ngầm ủng hộ, nên hai người này đã tuyển một được ba ngàn nghĩa binh để chống Pháp và Triều đình Việt Nam.

[7] Bình Tây Sát Tả

[8] Văn Thân cáo buộc người Công giáo bỏ thờ cúng tổ tiên, thần thánh, nên Trời đã giáng xuống đầu nhân dân đủ thứ thiên tai như dịch tả, mất mùa, đói khát v.v…, nghĩa là tất cả tai họa trên đất nước đều do người Công giáo gây nên. Bởi đó, phải tiêu diệt người Công giáo. Sớ còn vu cáo Giám mục Sohier đã trốn lên núi, chớ không phải đi Pháp, để tập trận với các loại vũ khí tối tân, như đại bác bằng gỗ mới phát minh bên Tây.

[9] Nhà thờ và nhà thừa sai Bernard ở Huế. Thừa sai gởi thơ khiếu nại lên Triều đình Việt nam. Triều đình mở cuộc điều tra. Kết quả bắt giữ một số thí sinh chủ trương bạo động. Trước tòa, họ khai báo ý đồ phế vua, nếu không chiều ý họ, khiến Tự Đức phải có thái độ.

[10] Sau khi chống Pháp tại Huế thất bại, vua Hàm Nghi được Tôn Thất Thuyết phò ra Tân Sở (Quảng Trị), rồi Quảng Bình. Tại đây, Hàm Nghi truyền hịch Cần Vương.

[11] Để giết sạch người Công giáo như đã thề nguyền, Văn Thân ở Quảng Nam đã cho nhiều nhà nho và quan chức trong đó có Phó Bảng Nguyễn Duy Hiệu đến các họ đạo Công giáo hứa hẹn bảo đảm an toàn, không giết chóc bừa bãi như ở Quảng Ngãi và Bình Định.

[12] Chuyện lừa bịp của Văn Thân Quảng Nam đã làm giáo hữu họ An Sơn và nhiều nơi khác tưởng thật, nên không chịu di tản đến những nơi có an ninh hơn như Trà Kiệu, Đà Nẵng, Phú Thượng v.v… Kết quả 650 giáo hữu An Sơn, 250 quanh vùng Trà Kiệu và 100 quanh vùng Phú Thượng bị giết.

[13] Độ 200 giáo hữu thuộc họ Tư Nghĩa, Quảng Ngãi chạy lánh nạn tại Trà Kiệu.

[14] Cố Thiên là một linh mục hội Thừa sai Ba-lê, tên Pháp là Mailard, bấy giờ đang là Cha sở Phú Thượng. Khi được tin Trà Kiệu bị bao vây, cố xuống Đà Nẵng yêu cầu Đại úy Ducrès, chỉ huy quân Pháp tại đây vào giải vây Trà Kiệu, vì theo hòa ước đã ký với triều đình Việt Nam, Pháp có trách nhiệm bảo đảm an ninh đối nội cũng như đối ngoại cho Việt Nam. Khi Cố Thiên và Đại úy Ducrès vào tới Trà Kiệu, mới hay Trà Kiệu không bị bao vây gì cả. Thì ra đó là âm mưu của Văn Thân nhằm tìm hiểu phản ứng của Pháp tại Đà Nẵng như thế nào.

[15] Nhờ số giáo dân các nơi chạy về tỵ nạn, nên Trà Kiệu mới có được 370 nam binh, tuổi từ 16 đến 60.

[16] Có lẽ các gia đình Công giáo sống rải rác ở các làng bên lương đã cho di tản vợ con đến Trà Kiệu trước, còn người chồng sẽ đến sau, nhưng cuối cùng bị kẹt lại hoặc bị giết, nên số nam nữ tại đây mới chênh lệch như vậy.

[17] Cố Nhơn có 4 khẩu súng nạp hậu, mỗi khẩu có 10 viên đạn mà thôi, 6 khẩu súng bắn đá do Cố Thiên cho mượn và 1 khẩu súng trường. Tất cả số súng này thuộc thành phần trừ bị, để thị oai hơn là diệt dịch, vì không có đạn.

[18] Sau khi hiến dâng Trà Kiệu cho Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ, Cố Nhơn lập một bàn thờ nhỏ giữa nhà, trên đặt tượng Mẹ với hai chân đèn. Mỗi khi có giao chiến, cố triệu tập trẻ con và các người già cả tật nguyền đến quỳ chung quanh bàn thờ nầy, để cầu xin Mẹ che chở. Nước mắt của trẻ con và của những người già cả tật nguyền này đã đóng góp không ít vào chiến thắng của Trà Kiệu.

[19] Kim Sơn là ngọn đồi nằm sau lưng và cách nhà thờ chính chừng vài trăm thước mà thôi. Đây là một cao điểm rất quan trọng đối với sự an toàn của Trà Kiệu. Ai cũng biết, nếu Văn Thân mà chiếm được ngọn đồi nầy, chúng chỉ bắn đá xuống làng, thì Trà Kiệu cũng chịu không nổi, nói chi tới súng đạn!

[20] Một khẩu đại bác.

[21] Đội Phổ tên thật là Trương Phiến, sinh năm 1811 tại Trà Kiệu. Lúc còn trẻ, ông đã phục vụ trong quân đội Triều đình và được thăng cấp Đội, nên người ta thường gọi ông là Đội Phổ. Sau khi giải ngũ, ông trở về sinh sống tại Trà Kiệu, ông là phụ tá đắc lực của Cố Nhơn từ tư tưởng đến hành động. Ông có tài “Nham độn”, nên đã cứu Trà Kiệu nhiều lần, như sẽ thấy những trang kế tiếp. Ông được Tòa Thánh La mã trao tặng Huy chương Danh dự, vì đã có công cứu giáo xứ Trà Kiệu khỏi bị tiêu diệt. Tên tuổi ông gắn liền với Trà Kiệu đến muôn đời.

[22] Ơn Giải tội lần sau hết.

[23] Hôm qua, khi kéo về nhà Cố Nhơn để xin ơn giải tội lần sau hết, anh em đã vất hết giáo mác dọc đường. Bây giờ đi nhặt thu, rồi trở lại phòng tuyến.

[24] Đầu não của Văn Thân từ tỉnh Quảng Nam kéo lên sau đoàn quân binh của mình một ngày, chiếm đồi Kim Sơn (cũng gọi là Hòn Bằng hoặc Núi Eo) để đặt Bộ chỉ huy. Tuy chưa thực sự đánh nhau, nhưng bên Trà Kiệu đã có 4 người hy sinh trong cuộc đụng độ ở đây.

[25] Trà Kiệu hết hy vọng Cố Thiên vào giải cứu như đã hứa.

[26] Sau khi hay tin giáo dân đã bỏ phòng tuyết, Cố Nhơn lo âu cầu cứu Đức Mẹ. Đến khoảng nửa đêm, người cho mời Việc Họ đến nhà, để nhờ họ thuyết phục anh em trở lại phòng tuyến chiến đấu bảo vệ giáo xứ.

[27] Vì cha mẹ phải ra trận, nên con nít cũng như người già cả tật nguyền đều được gởi tại nhà Cố Nhơn cả. Cố bảo họ mỗi khi có đánh nhau, phải đến quỳ chung quanh bàn thờ Đức Mẹ để cầu xin Mẹ cứu giúp quân mình.

[28] Thầy Phan là một thầy giảng tại Trà Kiệu. Có lẽ Mẹ đã dùng miệng thầy để thức tỉnh anh em, vì ai cũng biết Cố Thiên đã cam kết sẽ vào tiếp cứu, nếu Trà Kiệu bị vây. Cố Thiên chỉ là cái cớ để Mẹ tác động, chứ thực sự Cố đâu có vào tiếp cứu như đã hứa!

[29] Khi giao tranh, giáo hữu Trà Kiệu không ngừng kêu Ba Đấng: Giêsu Maria Giuse.

[30] Tiếng lóng chỉ nhanh chân trốn chạy.

[31] Bà Ba Tề là chị ruột của ông Đội Phổ. Tuổi đa cao, nhưng bà hăng say xông xáo như Đội Phổ, nên được Cố Nhơn chỉ định làm chỉ huy nữ binh.

[32] Tổ Đình tức là nhà Cố Nhơn. Thông thường sau mỗi trận đánh, quân binh đều kéo về nhà Cố Nhơn quỳ trước tượng Mẹ để tạ ơn.

[33] Như trên đã nói, Đội Phổ có tài “bấm độn”, nên ông đã làm một cái chòi rất cao gọi là Chòi Mông, để hàng ngày lên “bấm độn” đoán xem ngày mai địch sẽ làm gì.

[34] Quân lăn khiên là lính của triều đình chịu trách nhiệm an ninh miền rừng núi. Họ sử dụng cái khiên để chống cung tên của người thiểu số.

[35] Nhờ chiếm được tỉnh Quảng Nam, nên Văn Thân đã dùng voi trận của triều đình để đánh Trà Kiệu.

[36] Bộ Chỉ huy Văn Thân thấy quân binh họ không chịu giao chiến, nên cho lập hàng rào nầy để bắt họ phải giao chiến hoặc chết vì không có đường thoát thân.

[37] Phiên âm chữ “yard” là thước Anh, bằng 0m944.

[38] Cậu Học chỉ huy trận đánh hôm nay. Cậu là con trai tướng Ông Ích Khiêm hiện đang chỉ huy Mặt trận chống Pháp tại cửa Thuận An Huế.

[39] Cha Geffroy viết bài “Một trang sử đau thương tại giáo đoàn Trà Kiệu” đăng trên tuần báo Missions Catholiques số ra ngày 03, 10 và 17 tháng 9 năm 1886, tức một năm sau biến cố Trà Kiệu.

[40] Theo lời đồng bào các xã phía Bắc Trà Kiệu cho biết, trong trận nầy thương vong phía Văn Thân rất cao, được di tản qua làng họ bằng nhiều cách như: võng, cáng, kè, v.v… Họ ước tính có thể cả trăm, nhiều đến độ đội quân cứu viện Cậu Học khiếp sợ, kéo nhau trở về.

[41] Việc trả xác được xem như rất nhân đạo và nghĩa hiệp khiến các xã cảm kích, xét lại thái độ đối với Trà Kiệu. Kể từ đó họ không hợp tác, giúp đỡ, khiến Văn Thân phải lấy tù nhân từ tỉnh lên để bổ sung quân số.

[42] “Mắt tre” là một ngộ nhận của người lương khi nghe người Công giáo kêu tên cực trong ba Đấng Giêsu Maria Giuse. Đây cũng là khẩu lệnh xung phong của quân Trà Kiệu. Trong cục từ nầy, thông thường 2 chữ “Ma” và “Se” được phát âm mạnh nhất, đặc biệt khi một đoàn quân mạnh ai nấy hô, nên người ngoài Công giáo có thể nghe nhầm thành Mắt tre.

[43] Trà Kiệu xưa kia là Kinh đô của nước Chiêm thành. Phía Nam có một dãy thành dài độ 1 cây số, cao 3 mét, rộng 50 mét. Đó là hệ thống phòng thủ phía Nam kinh đô Chàm.

[44] Văn Thân giàn quân chung quanh Trà Kiệu hôm nay kể cả việc tấn công mặt Nam, đều là nghi binh. Mũi tấn công chính là cánh quân do một Soái chỉ huy dự trù lợi dụng kẽ hở giữa hai tuyến Nam Tây, đánh qua vườn Nhà Phước để vào khu Nhà xứ, được coi như là Bản doanh của quân Trà Kiệu.

[45] Lưu Tẩu là tổ phụ của nhóm Lưu Cây, Lưu Văn Đáng tại Trà Kiệu bây giờ.

[46] Khổng Minh là Quân sư của Lưu Bị, thời Tam Quốc bên Tàu.

[47] Suốt đêm hôm ấy, chúng phái nhiều người trở lại kiếm xác và có lẽ đã khiêng đi khá nhiều, nhưng về sau những người đi gặt lúa còn tìm thấy mười bốn xác sình thối trong ruộng.

[48] Số xác nầy có ghi trong bài của cha Geffroy đã dẫn, đăng trên tuần báo Missions Catholiques, trg 444.

[49] Tỉnh Quảng Nam lúc nầy còn trong tay Nghĩa hội, nên quân bao vây Trà Kiệu được tiếp tế đầy đủ, kể cả 12 khẩu đại bác được di chuyển đến hôm nay.

[50] Tức là đồi Kim Sơn (sau lưng nhà thờ Trà Kiệu) và Non Trược ở cuối làng nầy.

[51] Văn Thân đặt một khẩu đại pháo 18 ly, dưới chân đồi bên kia bờ suối, cách nhà thờ chừng 100 mét, để san bằng khu nhà xứ, vì họ cho đó là bản doanh của quân Trà Kiệu. Khẩu đại pháo nầy do một cựu quan báo binh của quân triều đình sử dụng.

[52] Số đại bác tham dự cuộc pháo kích nay gồm có: 4 khẩu cỡ lớn và 5 khẩu cỡ nhỏ ở đồi Kim Sơn, 3 khẩu cỡ lớn ở đồi Non Trược. Số súng nầy đã bị Trà Kiệu tịch thu trong các trận đánh chiếm các đồi ấy sau nầy.

[53] Ở miền Trung, nhà cha sở được gọi là nhà vuông.

[54] Núi Eo là đồi Kim Sơn, còn gọi là Hòn Bằng, nơi Văn Thân đặt Đại Bản doanh, cũng là vị trí của 9 khẩu Thần công đại bác.

[55] Một là đội Một do Đội Phổ chỉ huy

[56] Trước kia đàn ông Việt Nam cũng bới tóc như đàn bà.

[57] Thắng trận nầy, Trà Kiệu thu được 4 đại bác nòng lớn, 5 đại bác nòng nhỏ, một số súng cá nhân và giáo mác.

[58] Bồ tức là nước Bồ Đào Nha.

[59] Số đình chùa Văn Thân chiếm để đóng quân gồm có: một ngôi chùa, vài ngôi đình và trụ sở của làng. Tất cả đều nằm trong xóm Hoàng châu bây giờ.

[60] Để dễ bắt lửa khi đốt đuốc.

[61] Ngày xưa chưa có hộp diêm hay bật lửa, nên người ta phải lấy rơm gióc lại với nhau trông giống một khúc giây thừng gọi là con cúi, để giữ lửa.

[62] Đồi Kim Sơn vừa mới tiến chiếm hôm qua.

[63] Khi xuống tới tuyến Nam, Cố Nhơn thấy địch đang chiếm Thành Hời và đang thiết lập công sự phòng ngự, chứng tỏ địch có chủ trương đóng quân lâu dài, nên Cố quyết định phải đập tan ngay.

[64] Một Sáu tức đội Một và đội Sáu.

[65] Nữ binh được chỉ định làm hậu vệ cho đội Ba. Khi đội Ba tấn công sườn địch, Nữ binh giàn hàng ngang trên đầu Thành, để đề phòng địch đánh bạo hậu đội Ba.

[66] Chưởng Thủy có tên là Túy (Tý), người Quảng Ngãi. Ta còn nhớ trong một phiên họp đêm trên đồi Kim Sơn, các cấp chỉ Văn Thân yêu cầu Tỉnh phái một cấp Tướng đến chỉ huy Mặt trận nầy. Chưởng Thủy Túy (Tý) có thể là cấp chỉ huy yêu cầu, vì suốt cuộc chiến chưa thấy có vị nào cấp bậc cao hơn.

[67] Đạn bi là một cái giỏ bằng mây trong có thuốc nổ và chứa từ 80-100 viên bi bằng sắt. Khi cái giỏ ấy được bắn ra khỏi nòng súng, phát nổ và tung bi sát hại một vùng.

[68] Tý Sé, Dùi Chiêng là địa danh 2 vùng rừng núi thuộc tỉnh Quảng Nam, cũng là nơi đồn trú của quân Lăn Khiên.

[69] Giặc ma ở đây là bọn giặc chuyên bắn lén, vì ít khi thấy được họ. Thực sự họ là người Thượng bây giờ.

[70] Đây là lời giải thích của Đội Phổ. Không ai rõ ông có hậu ý hay hiểu sai ý nghĩa chữ Lăn Khiên. Theo ông, quân nầy có tài lăn tròn, cái khiên lúc nào cũng che cả người, nên khó đâm trúng họ. Ngược lại, họ lăn vào rồi chặt chân địch. Bởi vậy ông đã yêu cầu cắm chông bãi cát.

[71] Nguyên là những thùng dầu lửa của Nhà Phước kêu to và náo động nhất.

[72] Đây là Cảm tử quân được lệnh lợi dụng địa thế rậm rạp, bò lên mai phục sát đỉnh đồi, chờ lúc đội Ba xung phong, thì lập tức nhảy vào áp đảo hỏa lực địch, để đội Ba tiến lên an toàn hơn.

[73] Số tù nhân được tỉnh đưa lên để bổ sung quân số. vì sợ họ trốn thoát, nên Văn Thân phải cạo đầu họ để dễ kiểm soát.

[74] Một khẩu đại pháo và 40 viên đạn.

Leave a Reply